E. J. Waggoner
The Present Truth, ngày 18 tháng 6 năm 1891
Trong phần mở đầu thư gửi người Rô-ma, Phao-lô tuyên bố mình là:
“Phao-lô, tôi-tớ của Đức Chúa Jêsus-Christ, được gọi làm sứ-đồ, để riêng ra đặng giảng Tin-lành Đức Chúa Trời, … về Con Ngài … tức là Đức Chúa Jêsus-Christ, Chúa chúng ta.”
Rô-ma 1:1, 3-4 (Bản 1925)
Và ông xen vào, như một lời trong ngoặc, rằng Tin Lành này của Đức Chúa Trời là điều “xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên-tri Ngài mà hứa trong Kinh-thánh” (Rô-ma 1:2). Hai câu này nêu bật hai điểm thường bị bỏ qua hoặc phủ nhận, mà chúng tôi muốn lưu ý đến.
Tin Lành của Đức Chúa Trời về Con Ngài
Trước hết, Tin Lành là “Tin Lành của Đức Chúa Trời, về Con Ngài là Đức Chúa Jêsus-Christ.” Không chỉ là một sai lầm, mà còn là một sự sai lạc nghiêm trọng và là một lời buộc tội nặng nề đối với sự tốt lành của Đức Chúa Trời, khi tách Ngài ra khỏi Tin Lành. Xem Đức Chúa Trời là Cha như một Quan Án khắc nghiệt, báo thù, không lay chuyển, chỉ được cảm động đến lòng thương xót bởi những lời khẩn cầu của Con, là một tội lỗi nghiêm trọng chẳng kém gì việc người Công giáo xem Đấng Christ là vị Quan Án giận dữ, còn trinh nữ Ma-ri là người đứng ra can thiệp để che chở tội nhân khỏi cơn thịnh nộ của Ngài. Việc Đức Chúa Trời là Cha quan tâm sâu sắc nhất đến sự cứu rỗi của tội nhân, và đầy tình yêu dịu dàng cùng lòng thương xót đối với họ, được chứng minh bởi những lời rất quen thuộc sau đây của Đức Chúa Giê-su:
“Vì Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư-mất mà được sự sống đời đời.”
Giăng 3:16 (Bản 1925)
Ở đây cho thấy chiều sâu của tình yêu Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Tình yêu ấy lớn đến nỗi Ngài đã để Con Ngài chết để chúng ta có thể sống. Đức Chúa Trời dự phần trọn vẹn trong chương trình Tin Lành đến nỗi người môn đồ được yêu dấu, không nói rõ ông đang chỉ về Cha hay Con, đã nói:
“Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu-thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống.”
I Giăng 3:16 (Bản 1925)
Đức Chúa Trời không ích kỷ sai Con Ngài đi chịu chết. Cha gắn bó với Con, vì hai là một. Cha đã cho phép Con đến thế gian để chết; phải, Ngài “không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho” (Rô-ma 8:32). Nhưng khi làm như vậy, Ngài đã ban tất cả những gì thiên đàng có thể ban. Mỗi nỗi buồn và sự đau khổ mà Đấng Cứu Thế của chúng ta chịu vì chúng ta cũng đâm thấu, với cùng một mức độ, vào tấm lòng lớn lao của Đức Chúa Trời.
Cha và Con hiệp một trong công việc cứu rỗi
Đúng là sứ đồ Phao-lô, khi viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca, nói về sự hủy diệt cuối cùng của những kẻ:
“báo-thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng-phục Tin-lành của Đức Chúa Jêsus-Christ chúng ta.”
II Tê-sa-lô-ni-ca 1:8 (Bản 1925)
Nhưng điều này chỉ cho thấy sự hiệp nhất của Cha và Con trong công việc ấy. Cha và Con là một. Trong mọi hành động và tư tưởng, cả hai đều hiệp nhất. “Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài” (Giăng 3:16); tuy nhiên, về Đấng Christ cũng có lời chép rằng Ngài “là Đấng liều mình vì chúng ta” (Tít 2:14). Và điều này phù hợp với lời của đấng tiên tri: “Ngươi khá nói cùng người rằng: Đức Giê-hô-va vạn-quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi-mống, sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền-thờ Đức Giê-hô-va. Chính người sẽ xây đền-thờ Đức Giê-hô-va; và chính người sẽ được sự oai-nghiêm, ngồi cai-trị trên ngôi mình, làm thầy tế-lễ ở trên ngôi mình; và sẽ có mưu hòa-bình ở giữa cả hai” (Xa-cha-ri 6:12-13).
“Người có tên là Chồi mống” chính là Đức Chúa Giê-su Christ. Ngài ngồi trên ngai của Cha Ngài (Khải Huyền 3:21), và cả hai cùng bàn định về sự bình an cho những người đang là kẻ thù và bị xa cách trong tâm trí bởi những việc làm gian ác. Hơn nữa, hãy đọc những lời đầy ý nghĩa này của Phao-lô:
“Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế-gian lại hòa với Ngài.”
II Cô-rinh-tô 5:19 (Bản 1925)
Sự giáng sinh thấp hèn, đời sống nghèo khó, thiếu thốn, cám dỗ và đau khổ, cơn thống khổ trong vườn, những lời sỉ nhục và xúc phạm tại nơi xét xử, cùng cái chết tàn khốc trên thập tự giá — tất cả đều là những sự biểu lộ thiện ý của Đức Chúa Trời đối với loài người và ước muốn có sự bình an giữa họ.
Tin Lành đã được rao giảng từ ban đầu
Và Tin Lành này đã được rao giảng ngay từ ban đầu. A-bên đã tin Tin Lành ấy, và bởi đức tin mình:
“Bởi đức-tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế-lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công-bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ-vật ấy.”
Hê-bơ-rơ 11:4 (Bản 1925)
Nô-ê đã tin Tin Lành ấy, và vì vậy “bởi đó người định tội thế-gian, và trở nên kẻ kế-tự của sự công-bình đến từ đức-tin vậy” (Hê-bơ-rơ 11:7).
Cũng vậy:
“Kinh-thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công-bình bởi đức-tin, nên đã rao-truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước.”
Ga-la-ti 3:8 (Bản 1925)
Điều này xảy ra khi Áp-ra-ham chưa có con, và khi xét theo khả năng của con người thì không có khả năng nào để ông có thể có một người con; thế nhưng “Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công-bình cho người” (Sáng-thế Ký 15:6).
Đối với người Y-sơ-ra-ên, những hậu duệ trực hệ của Áp-ra-ham, cũng vậy. Sứ đồ nói: “Vì tin lành nầy đã rao-truyền cho chúng ta cũng như cho họ” (Hê-bơ-rơ 4:2). “Cho chúng ta cũng như cho họ!” Đó có vẻ là một cách nói kỳ lạ, phải không? Nếu ông đang khẳng định rằng người Do Thái có Tin Lành, thì ông hẳn đã nói rằng Tin Lành được rao cho họ cũng như cho chúng ta. Nhưng đó không phải là điểm ông muốn nói. Ông đã cho thấy rằng Tin Lành đã được rao cho họ. Họ đã có Tin Lành trước, và đã từ chối nó; còn giờ đây chúng ta được cảnh báo rằng, dù có cùng những đặc ân mà họ đã có, chúng ta đừng “theo gương kẻ chẳng tin kia mà vấp-ngã” (Hê-bơ-rơ 4:11).
Tin Lành đã được hứa qua các đấng tiên tri
Tin Lành này về sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ để giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết đã được hứa qua các đấng tiên tri trong Kinh Thánh. Thời gian sẽ không đủ để kể hết những lời tiên tri liên quan đến Đấng Mê-si, và chúng ta chỉ có thể tóm lược chúng bằng một vài lời trong Tân Ước. Phi-e-rơ, khi nói về sự cứu rỗi của linh hồn chúng ta, nói:
“Về sự cứu-rỗi đó, các đấng tiên-tri đã tìm-tòi suy-xét, và đã nói tiên-tri về ân-điển định sẵn cho anh em: nghĩa là tìm cho biết thời-kỳ nào và thời-kỳ cách nào mà Thánh-Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau-đớn của Đấng Christ và về sự vinh-hiển sẽ theo sau.”
I Phi-e-rơ 1:10-11 (Bản 1925)
Phao-lô, khi được phép tự biện hộ trước mặt Ạc-ríp-ba, đã nói:
“Song nhờ ơn Đức Chúa Trời bảo-hộ, tôi còn sống đến ngày nay, làm chứng cho các kẻ lớn nhỏ, không nói chi khác hơn là điều các đấng tiên-tri và Môi-se đã nói sẽ đến, tức là Đấng Christ phải chịu thương-khó, và bởi sự sống lại trước nhất từ trong kẻ chết, phải rao-truyền ánh sáng ra cho dân-sự và người ngoại.”
Công-vụ 26:22-23 (Bản 1925)
Điều này không có nghĩa rằng Đấng Christ là người đầu tiên, xét theo thứ tự thời gian, sống lại từ kẻ chết; bởi chính các đấng tiên tri đã khiến người chết sống lại, và Đấng Christ đã khiến nhiều người sống lại trước khi Ngài chết. Nhưng điều đó có nghĩa rằng Ngài là Đấng đứng đầu về sự cao trọng. Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ. Trong số tất cả những người sẽ sống lại từ kẻ chết, Ngài đứng đầu, bởi vì chính sự phục sinh của Ngài đã làm cho những người khác có thể được sống lại từ kẻ chết.
Phi-e-rơ cũng tuyên bố với những người đang kinh ngạc trước một phép lạ đáng chú ý: “Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng cách đó mà làm cho ứng-nghiệm lời Ngài phán tiên-tri bởi miệng các đấng tiên-tri rằng Đấng Christ của Ngài phải chịu đau-đớn” (Công-vụ 3:18). Rồi ông nói thêm: “Hết thảy các tiên-tri đã phán, từ Sa-mu-ên và các đấng nối theo người, cũng đều có rao-truyền những ngày nầy nữa” (Công-vụ 3:24).
Các đấng tiên tri không chỉ báo trước mà còn được hưởng ngày ấy
Không chỉ các đấng tiên tri đã báo trước những ngày này, mà họ còn được hưởng những ngày ấy, không chỉ trong sự trông đợi, mà trong thực tế. Đức Chúa Giê-su nói với người Do Thái:
“Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng-rỡ.”
Giăng 8:56 (Bản 1925)
Và tiên tri Đa-vít đã nói về chính ngày ấy — ngày cứu rỗi:
“Tôi sẽ cảm-tạ Chúa, vì Chúa đã đáp lời tôi, Trở nên sự cứu-rỗi cho tôi. Hòn đá mà thợ xây loại ra, Đã trở nên đá đầu góc nhà. Điều ấy là việc của Đức Giê-hô-va, Một sự lạ-lùng trước mặt chúng tôi. Nầy là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, Chúng tôi sẽ mừng-rỡ và vui-vẻ trong ngày ấy.”
Thi-thiên 118:21-24 (Bản 1925)
Lời hứa của Đức Chúa Trời chắc chắn như điều đã xảy ra
Làm sao họ có thể vui mừng trong ngày cứu rỗi, và được cứu bởi huyết của Đấng Christ, hàng trăm năm trước khi huyết ấy được đổ ra? Bởi vì lời hứa của Đức Chúa Trời khiến điều ấy trở nên thực hữu đối với họ ngay cả trước khi biến cố xảy ra. Ngài là Đấng:
“ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi.”
Rô-ma 4:17 (Bản 1925)
Một điều mà Đức Chúa Trời đã hứa thì chắc chắn y như thể nó đã thực sự xảy ra. Sau khi Đấng Christ đã được hứa ban, không có một khả năng nhỏ nhất nào rằng Ngài sẽ không chịu thương khó; và việc Đấng Christ cứu chuộc loài người bằng huyết Ngài:
“đã định sẵn trước buổi sáng-thế.”
I Phi-e-rơ 1:20 (Bản 1925)
Vậy thì, vì Ngài là Chiên Con “đã bị giết từ buổi sáng-thế” (Khải-huyền 13:8), nên những người sống ngay trong năm đầu tiên của thế giới cũng có thể nhận được từ sự hy sinh của Ngài cùng một lợi ích như chúng ta ngày nay.
“Ôi! sâu-nhiệm thay là sự giàu-có, khôn-ngoan và thông-biết của Đức Chúa Trời! Sự phán-xét của Ngài nào ai thấu được, đường-nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (Rô-ma 11:33). “Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sự ban-cho của Ngài không xiết kể!” (II Cô-rinh-tô 9:15).
E. J. W.
